Feeds:
Bài viết
Phản hồi

September 1, 1981
YOUNG PIANIST REMINDS THE WORLD VIETNAM IS A COUNTRY OF MUSIC, TOO
By HENRY KAMM, Special to the New York Times

TOKYO— When Dang Thai Son found himself, against his own and everyone else’s expectation, in the final round of last year’s Chopin Piano Competition in Warsaw, his suit, which he had bought in the Children’s World department store in Moscow, would no longer do. Formal dress was required, not easy to find on short notice in consumer societies, more difficult yet in Poland’s Communist austerity, and impossible when it must fit a Vietnamese of boyish stature who had found his only Western suit on the children’s rack.

The Polish Government intervened, ordering a tailor to run up a formal suit in two days. The pianist, who has just turned 23 years old, considers it only one of the many miracles that have marked his life since then. The first was that he won the contest, a feat that has made stars overnight. From the life of international isolation and physical deprivation that is the lot of the Vietnamese, Mr. Son has burst into instant celebrity, a whirl of wide-ranging travel, public adulation and luxury hotels.

His tour of Japan – 20 concerts in a month – was a sellout everywhere, some recitals were televised live, his records and photos are on display in music shops and his face has become familiar through television interviews. Even his mother, who was also his first teacher, is being asked for her autograph. The Japanese tour followed acclaimed appearances in France and West Germany, where he recorded for Deutsche Grammophon. ‘Gives Much Hope to Others’

”It opened my way to the outside world,” the pianist said softly over breakfast at his hotel here. ”I can travel, and this gives much hope to others in Vietnam that they will be able to do the same.”

Despite his long shock of hair and blue jeans that did not come from Moscow, Mr. Son relates his newfound fame more to his national identity than would musicians from other countries, Western or Communist.

”Most importantly, my sudden success will help to change the thinking of those who know Vietnam only as a country of war,” he said. ”We were understimated. Now Vietnam also speaks to the world in the language of music.”

Mr. Son, who has learned some English in his travels but speaks mainly through his mother – whose French is that of the Saigon upper classes although she has lived in Hanoi for nearly 30 years and apologizes for not having used it for a long time – sees great relevance in having won the contest in Poland and feels a particular affinity for Chopin. Joy Follows Career of Sadness

”His country, too, was occupied, broken up and divided,” he said. ”And Chopin remained very patriotic even while he lived in France. To play Chopin, you must know not only joy but also sadness.”

Mr. Son’s present joys follow a career of sadness, in whose narration son and mother shared volubly, the more so because they had never had an occasion to relate it to an American. Their account disclosed an aspect of North Vietnam during its war against the United States that has never come to outside attention.

The pianist’s mother, Thai Thi Lien, who studied at the Paris Conservatory and completed her education in Prague, began teaching her son in earnest when he was 5. At 8, he passed the entrance examination at the School of Music of Vietnam. A year later, the school, its faculty and 700 students and its 60 pianos were evacuated and dispersed into the countryside between Hanoi and the Chinese border, and continued functioning even under the most intense bombing. Huts Built for the Pianos

”The peasants with whom we were quartered did not like the pianos in their houses because when we played – and each piano was played all day because there were so few – they could not hear the planes approaching,” said Mrs. Lien. She and her son laughed, to keep an American from feeling that they spoke in accusation.

”We built grass huts just for the pianos, and trenches next to them, into which we jumped when the planes came,” Mrs. Lien, who was head of the school’s piano department, said. ”Still we played all day, and in the evening we had very intimate lecture-concerts by candlelight.”

Mr. Son finished his secondary studies in 1976, emerging first in his class, and was sent to the Tchaikovsky Conservatory in Moscow to study under Vladimir Natanson, whom he reveres.

”Professor Natanson told me that rarely had a student made so much progress as I did in my first year,” Mr. Son said. ”It is not so surprising – it was the first time that I played on pianos that worked well. When I first saw the conservatory, I stood in front of it and admired it and was afraid to enter. They had to come out to bring me in.”

Unlike other winners of major competitions, Mr. Son took only a year’s leave from the Tchaikovsky Conservatory to fulfill some of the engagements that are the reward for the winner in Warsaw’s Chopin Competition. He will return this month to resume his normal studies. ”I have so much to learn,” he said. His mother added, ”He must enlarge his cultural and intellectual baggage.” ‘Memories That Remain’

Mr. Son said he would like to play in the United States but, hinting at possible political considerations, he said, ”There must be more preparations, from all points of view.”

”There are memories that remain, but I want to play in America” he continued. ”Music is universal, and I would like to show that Vietnamese are part of it.”

Asked whether he had had any pleasant contacts with America, he replied quickly, ”Above all with Steinway pianos.”

Thế là năm mới đã đến, năm cũ đã qua. Năm vừa rồi quả là một năm đáng quên của mình bởi có quá nhiều chuyện buồn phiền. Mấy này cuối năm mà những chuyện không vui cũng chẳng buông tha mình. Sắp tới sẽ là thời gian vô cùng khó khăn của mình. Thôi kệ ! Mình sẽ cố gắng chiến đấu đến cùng.
Năm mới, thành tâm chúc mọi người sức khoẻ, có một cuộc sống tử tế, thanh thản :)!

Thơ ca à! What for ?

Hành trình của thi ca, rốt cuộc là hành trình vì cái gì và về cái gì? Câu hỏi cốt tử đó không hề dễ trả lời, tôi nghĩ vậy. Thơ ca là cuộc đời, người sống làm sao thì thơ ca làm vậy, cho nên thơ ca thể hiện khuôn mặt của đời sống, kiếp người, thế hệ và nhân sinh. Động đến câu hỏi cốt tử đó là ta đã động đến câu hỏi đáng lẽ ra không nên hỏi “ Bản chất của đời sống này là gì?”. Một câu hỏi chưa/không có lời giải đáp trọn vẹn. Đời sống này hỗn mang lắm, đó là bức thảm tuyệt đẹp mà Chúa trời đã dệt nên bằng những sợi chỉ có màu sắc tương phản, bằng mũi kim của khổ đau trong một ngôi nhà cô đơn. Một cái nhìn có tính đơn chất về thế giới chỉ tồn tại ở những thời gian đầu trong hành trình nhận thức và suy ngẫm của con người, của loài người. Càng sống trọn vẹn và đủ lâu với cõi người này, ta càng thấm thía một điều rằng thế giới này chưa bao giờ và sẽ chẳng bao giờ là đơn chất. Thế giới này là một sự hỗn mang tuyệt đẹp. Sự giản đơn trong cách hiểu về thế giới có lẽ chỉ có trong truyện cổ tích. Thế giới của trẻ thơ là như thế, luôn dịu dàng và trong trẻo, luôn khái quát hoá mọi sự trong sự ngây thơ, cả tin và chân thành.Truyện cổ tích do ai viết ra? Do người lớn viết! Đúng không? Vậy khi viết ra những câu chuyện cổ tích thần tiên đó, lũ người lớn (trong suy nghĩ của tôi) như là một đoàn người đang băng qua sa mạc, quá mệt mỏi và vô vọng về con đường phía trước, họ dùng chân tại một ốc đảo với cây xanh và nước suối róc rách. Truyện cổ tích với tất cả những chất phác của nó, là nơi “ta nương nhờ tiếng thở than” !
Bài “Đồng dao cho người lớn” này là một trong số không nhiều bài thơ mà mỗi khi đọc lên đều khiến tôi phải suy nghĩ. Ngồi trong ốc đảo của trẻ thơ, Nguyễn Trọng Tạo không chịu nghĩ ngơi đặng còn “bước tiếp trên chặng đường dài”, ông lại cứ suy tư, suy tư và suy tư. Sự suy tư mang vị mặn cuộc đời cộng với giọng điệu trong trẻo và cái nhìn trong sáng của con trẻ là công thức dễ mang lại cảm thông và sự thành công cho mỗi bài thơ. Nó làm cho bài thơ nhuốm một màu hiền triết. Lý luận về thi pháp gọi hiện tượng này là không gian đồng thoại trong thi ca.
Bài thơ y hệt như một trò chơi trẻ con. Nhà thơ chỉ việc đặt các ẩn dụ và so sánh cạnh nhau, và sự sắp đặt này tự thân nó có một ý nghĩa riêng biệt. Đó là sự đối tỉ của những khái niệm hay phạm trù đối lập nhau mãnh liệt. Làm thế để làm gì nhỉ ? Để làm gì cơ chứ ? Nhà thơ không phát minh ra chúng, nhà thơ chỉ đơn giản là phát hiện ra chúng mà thôi. Bản thân tôi thì nghĩ rằng mục đích cuối cùng của nhà thơ khi viết những dòng này trước hết là thuyết phục mình, sau nữa là thuyết phục đồng loại rằng “ Đời là thế đó !!!” (C’est la vie!), một câu nói đơn giản nhưng ta chỉ có thể thấm thía khi đã sống đủ và đến một chừng mực nào đó của kiếp người.

ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN
có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời
có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có ông trăng tròn nào phải mâm xôi
có cả đất trời mà không nhà ở
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.
1992

Năm ấy, trong kinh thành, nhà vua mở tiệc to lắm, mừng cho kinh đô tròn 10 năm tuổi. Ngân khố quốc gia vốn đã cạn kiệt, nay lại phải tổ chức yến tiệc và lễ nghi tốn kém, dân tình và một vài bọn văn sĩ cũng có phàn nàn, nhưng thiên tử đã quyết, cãi thiên tử là cãi lại trời nên ai cũng sợ. Ngay sau đấy, hạn hán hoành hành dữ dội ở mấy vùng khó khăn, có lẽ vua muốn an dân nên bèn sai bên Bộ Lễ cắt bớt tiền lo cho lễ lạt đặng cứu trợ. Nhờ đó mà lòng dân cũng nguôi ngoai.

Dưới thời vua này, nhân dân nói chung còn lầm than lắm. Bọn nịnh thần, tặc tử, bọn văn nô được dịp hoành hành. Trăm họ ai nấy chăm lo coi cút làm ăn, rất hiếm người để ý đến việc triều chính. Phần vì sợ hãi, phần vì quá u minh, chẳng hiểu gì. Thảng hoặc cũng có đôi ba bọn văn sĩ có tí chí khí dám lên tiếng về chuyện này chuyện kia, nhưng đa phần đều chẳng có tác động gì nhiều lắm. Người hiền tài số thì chán nản ngoảnh mặt làm..thinh, số nữa thì cũng là loại “theo đóm ăn tàn”Thế nước ngày càng yếu, lòng dân không yên trước hiểm hoạ của lân bang, chuyện triều chính thì rối ren. Thật từ trước đến nay, chưa khi nào quốc gia lại suy vong đến thế. Cứ mỗi kỳ vua triệu tập các quan đại thần và bọn chư hầu về kinh đô tụ họp, vua đều sai bọn bên Bộ Hình bắt giam bọn trộm cắp, bọn cô đầu, bọn mãi dâm và cả bọn văn sĩ nữa, cho vào ngục thất hết. Việc này đã thành thông lệ.

Tống Uyên

Trích Đại Nam sử ký-phần hậu (đậu) biên.

Ngôi sao mới

russia_01_446Vậy là sau 20 năm kể từ ngày ca sĩ Nga giọng Baritone Dmitri Hvorostovsky giành chiến thắng tại cuộc thi Cardiff Singer mới lại có một người Nga lập lại được chiến thắng này. Đó là ca sĩ Soprano người Nga Ekaterina Shcherbachenko.
Sinh năm 1977, cô theo học thanh nhạc với giáo sư Marina Alekseeva tại Nhạc viện quốc gia Moscow, tốt nghiệp năm 2005. Trong thời gian theo học nhạc viện, cô đã tham gia đóng các vai sau: Tatyana (Eugene Onegin), Mimi (La bohème), Tại nhà hát Opera Stanislavsky và d Nemirovich-Danchenko Theatre, cô vào vai Lidochka trong vở Maskova của Shostakovich, Cheremushki và Fiordiligi (Così fan tutte). Năm 2005, ra mắt lần đầu tiên tại nhà hát Bolsoi với vai Natasha trong vở “Chiến tranh và hoà bình”. Sau đó, cô làm việc cho nhà hát này với các vai như Liù (Turandot), Micaëla (Carmen), Iolanta (Iolanta) cũng như Natasha, Tatyana và Mimi.
Cô cũng tham gia cộng tác với nhiều nhà hát Opera và dàn nhạc danh tiếng như Opéra National de Lyon, Teatro Lirico di Cagliari, Danish National Symphony Orchestra, St Petersburg Philharmonic Orchestra và Royal Scottish National Orchestra ở Glasgow và Edinburgh.
Ekaterina đã từng làm việc dưới sự điều khiển của các nhạc trưởng Alexander Vedernikov, Yuri Temirkhanov, Alexander Lazarev, Jiří Bělohlávek và Mikhail Jurowski.
Trong đêm chung kết, với ba giọng ca rất tài năng khác, cô đã vượt qua và chinh phục khán giả cũng như ban giám khảo với một chương trình biểu diễn được đánh giá là xuất sắc bao gồm các Aria với ba thứ tiếng Ý, Pháp và Anh.
Với giải thưởng trị giá 15.000 bảng cũng như cơ hội hợp tác với BBC và Nhà hát Opera quốc gia xứ Wales, rõ ràng một sự nghiệp còn rực rỡ hơn nữa đang chờ đón cô. Trước mắt là chuyến lưu diễn cùng nhà hát Bolsoi tại Tokyo, La Scala Milan và Lyublyana vào năm 2009 với vai Tatyana.
Nguồn: http://www.bbc.co.uk/wales/cardiffsinger/sites/2009/pages/russia.shtml

16orch_600Anthony Tomasini
Oasis dịch
Vậy là sau tất cả những xì xào bàn tán về việc YouTube Symphony Orchestra sẽ vĩnh viễn thay đổi quy trình tuyển chọn nhạc công của các dàn nhạc giao hưởng; sau hàng tháng trời chát bằng máy tính để bàn luận về việc thành lập một dàn nhạc online đầu tiên trên thế giới; sau khi 96 nhạc công đã được tuyển chọn ra trong số hơn 3000 nhạc công tham gia gửi băng về ban tuyển chọn, họ được tập trung tại New York cho buổi biểu diễn tại Carnegie Hall, người ta thật sự muốn biết dàn nhạc này sẽ chơi như thế nào.
Khá tốt, đó là nhận xét được đưa ra sau một chương trình biểu diễn kéo dài ba tiếng đồng hồ tại Carnegie Hall tối thứ Tư vừa rồi (16-04-2009), chủ yếu dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Micheal Tilson Thomas. Đó là một chương trình khá đa dạng, bao gồm các trích đoạn từ 15 tác phẩm khác nhau.
Như trong phần giới thiệu của nhạc trưởng Thomas, người ta đã có chủ ý xây dựng một chương trình biểu diễn đa dạng như thế. Ông ta nói rằng với việc các nhạc công được tuyển chọn đến từ hơn 30 nước trên thế giới, trong đó bao gồm cả các nhạc công chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư, chương trình cần phải bao gồm càng nhiều phong cách và trường phái âm nhạc càng tốt. Do đó, ta có thể thấy trong chương trình các tác phẩm trải dài từ bản Cazon cho bộ đồng của Gabriel, một nhạc sĩ thời Phục Hưng đến một tác phẩm mới và khó viết cho dàn nhạc và nhạc cụ điện tử của Mason Bates.
Cho những ai trong chúng ta muốn thưởng thức sự trình diễn của các nhạc công nhiệt tình và tài năng sau chỉ 2 ngày luyện tập, chúng ta sẽ khá thất vọng khi nghe 2 tác phẩm: chương 4 đầy hứng khởi trong bản giao hưởng số 4 của Brahms, tác phẩm mở màn và chương kết đầy sức mạnh và dữ dội trong bản giao hưởng số 4 của Tchaikovsky, tác phẩm kết thúc chương trình.
Có lẽ cũng thật khó khăn và thất vọng đối với ngay cả các nhạc công. Đặc biệt, trong chương cuối bản giao hưởng số 4 của Tchaikovsky, nhạc trưởng Thomas đã bắt dàn nhạc chơi với một tốc độ chóng mặt, trong khi đó vẫn phải đảm bảo sự chuẩn xác và chủ động trong việc làm chủ sắc thái. Cho dù có những sai sót như thế, buổi biểu diễn vẫn đầy màu sắc, quyến rũ và sự đam mê.
Xét một cách khắt khe hơn? Tất nhiên họ cần thêm thời gian để luyện tập. Dàn nhạc chỉ có hai ngày luyện tập. Trong ngày thứ Hai, họ phải tập từ 10 giờ sáng đến tận 9 giờ tối. Một nhạc trưởng có thể làm như thế khi thoát khỏi những quy định của các nghiệp đoàn và với những nhạc công không được trả lương.
Tuy nhiên, mục đích của dự án này là tập hợp các nghệ sĩ không chuyên lại với nhau, về mặt này nó là một bước đột phá.
Đó là Soo-Young Lee, nhạc công Clarinette đến từ Hàn Quốc, hiện đang làm việc ở Áo, người có một niềm tin chân thành rằng âm nhạc là một ngôn ngữ toàn cầu có thể xoá nhoà mọi nghi kị. Đó là George Durham, một tay Cello đầy kinh nghiệm, hiện đang kiếm sống bằng nghề chơi bài chuyên nghiệp ở Reno, Nevada, Hoa kỳ.
Dự án này của YouTube rất có giá trị. Tuy nhiên, tôi vẫn mong giá như chương trình biểu diễn bớt đi sự máy móc và tính tuyên truyền, đồng thời tăng tính hiệu quả lên. Sau tác phẩm của Brahms, các tác phẩm khác đã có cơ hội để toả sáng.
Edwin Outwater, nhạc trưởng trẻ và tài năng, chịu trách nhiệm hai tác phẩm: bản Canticle số 3 viết cho bộ gõ của Lou Harrison và bản Serenade viết cho bộ hơi của Dvorak. Hai nhóm kèn đồng, ngồi trên hai ban-công đối diện nhau, chơi bản Canzon viết cho kèn đồng của Gabriel. Dàn dây thì có bản “Bachiana Brasileira” số 9 của Villa-Lobos. Trước khi kết thúc phần một chương trình, cả dàn nhạc chơi bản “Ride of the Valkyries” của Wagner.
Có đôi chút khó chịu khi nghe Yuja Wang, một pianist trẻ tài năng, trình diễn chương Scherzo trong bản Concerto số 2 của Prokofiev. Nếu chương trình được xây dựng theo một cách khác đi, cô ta và dàn nhạc đã có thể chơi hết toàn bộ tác phẩm, vốn không dài lắm. Thay vào đó, cô đã chơi thêm bản chuyển soạn “Flight of the Bumblebee”, một tác phẩm cực khó về mặt kỹ thuật nhưng trống rỗng.
Nhạc trưởng Đàm Thuẫn (Tan Dun) trình diễn ra mắt tác phẩm Internet Symphony số 1 (“Eroica”) của ông, một tác phẩm được viết riêng cho dịp này. Tác phẩm dài 5 phút, có những đoạn phát triển mượn từ bản giao hưởng “Eroica” của Beethoven, cùng với tiếng leng keng của bộ gõ, âm thanh khó chịu của bộ đồng và những đoạn nhạc sống động, nghe như Ngoạ Hổ Tàng Long đã gặp Lone Ranger.
Những nghệ sĩ solo nổi tiếng khác tham gia vào chương trình gồm có nghệ sĩ violon Gil Shaham với chương cuối bản Concerto cho violon “Thổ Nhĩ Kỳ” của Mozart và nữ ca sĩ giọng Soprano Measha Brueggergosman thể hiện tài năng qua hai tác phẩm mang tính thử nghiệm của John Cage.
Lẽ tự nhiên, với sự tham gia của YouTube thì các yếu tố liên quan đến kỹ xảo video hiện diện khác nhiều trong chương trình, từ các clip ngắn nói về các cuộc tuyển chọn đến phông hậu cảnh trên sân khấu, đặc tả những thành phố nơi các tác phẩm ra đời. Có quá nhiều màn hình, bảng đèn và máy chiếu trên hành lang của khán phòng đến nỗi những đoạn pianissimo đã phải cạnh tranh với tiếng vù vù của những chiếc quạt tản nhiệt.
Sau tất cả những phát ngôn lẫn những lời khen tặng dành cho YouTube và hãng chủ của nó, Google, sẽ tuyệt vời hơn nếu dự án này trở thành thường xuyên. Tuy nhiên, tôi nghi ngờ việc YouTube sẽ tài trợ cho một dàn nhạc giao hưởng, giống như NBC đã từng làm với Toscanini trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên radio. Dù vậy, giống như lời giải thích của Kurt Hinterbichler, một nhà vật lý của Đại học Columbia, đồng thời là một nhạc công Contrebass năng động trong dàn nhạc đã nói trong video clip giới thiệu, YouTube xứng đáng được ghi công. Oh vâng, nó xứng đáng, sau khi đã thành lập một dàn nhạc giao hưởng thay vì một đội bóng rổ quốc tế mang tên YouTube.

Link http://www.nytimes.com/2009/04/17/arts/music/17tube.html?_r=1&ref=music

Caryl Phillips

Điểm cuốn “Nhà văn như là di dân” (The Writer as Migrant) của Cáp Kim

Nguyễn Tố Nguyên dịch

Trong quyển tiểu thuyết mới nhất của Cáp Kim (Ha Jin哈金), quyển A free life, nhà văn nổi tiếng người Mỹ gốc Hoa đã băng qua Thái Bình Dương và thai nghén tác phẩm của mình trên đất Mỹ. Dường như cuối cùng tác phẩm của ông cũng đã song hành được với chính cuộc đời ông. Cáp Kim có tên khai sinh là Kim Tuyết Phi (Jīn Xuěfēi – 金雪 ), ông sinh năm 1956 tại Liêu Ninh (Liaoning- ). Ông tham gia Quân giải phóng từ khi còn là một thiếu niên, sau đó tốt nghiệp cử nhân tiếng Anh tại Đại học Hắc Long Giang (Heilongjiang), có bằng Thạc sĩ về văn học Anh tại Đại học Sơn Đông (Shandong – ). Vào năm 1985, lúc 29 tuổi, ông rời Trung Quốc đến Đại học Brandeis theo học tiến sĩ. Ông bắt đầu làm luận án của mình về tiếng Anh nhưng vẫn mơ một ngày được trở về Trung Quốc làm giáo viên hay phiên dịch viên và rồi dần dần có thể trở thành nhà văn. Chính vụ thảm sát Thiên An môn đã khiến ông cũng như nhiều du học Trung Quốc khác nghĩ rằng quay trở về Trung Quốc là một quyết định tồi, và rồi họ quyết định ở lại nước Mỹ và theo đuổi giấc mơ trở thành nhà văn của mình. Kim Tuyết Phi lấy bút danh là Cáp Kim (chữ Cáp được lấy từ tên thành phố mà ông yêu thích nhất, thành phố Cáp Nhĩ Tân – Harbin – ) và bắt đầu học cách trở thành nhà văn trên đất Mỹ.

Hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua và rõ ràng là nhà văn di dân này đã thành công. Ông hiện là Giáo sư tiếng Anh tại Đại học Boston, các tiểu thuyết và truyện ngắn của ông đã mang lại cho ông danh tiếng cũng như nhiều giải thưởng. Cho đến trước khi quyển A free life ra đời, đề tài chính của ông vẫn chỉ là những gì ông đã kinh qua, là quê hương mà ông đã bỏ lại sau lưng mình. Những tác phẩm của ông như Waiting (1999) và War Trash (2004) phảng phất hương vị của sự mất mát và giọng điệu đặc trưng trong những trang viết của ông khiến độc giả liên tưởng đến một nỗi buồn sâu kín thể hiện qua những câu văn được trau chuốt kỹ lưỡng. Tuy nhiên trong thế giới hư cấu của Cáp Kim còn có cả sự giận dữ và thất vọng. Do hệ thống hành chính Trung Quốc rất cứng nhắc và đôi lúc là nỗi ám ảnh, những tác phẩm của ông mạnh mẽ khám phá cách thức mà chính quyền cũng như truyền thống Trung Hoa đã đè nén bản ngã và cái tôi cá nhân.

          A Free Life, ra đời năm ngoái (2007), là một tác phẩm mang dáng dấp sử thi với một cái nhìn toàn cảnh và một hình thức kể chuyện có kết cấu chặt chẽ, bám sát cốt chuyện vốn đặc trưng của văn học Anh thế kỷ 19. Câu chuyện kể về Nan Wu, một nghiên cứu sinh về khoa học chính trị tại Đại học Brandeis và vợ anh là Bình Bình (Pingping), họ đã cảm thấy giấc mơ trở về Trung Quốc tan vỡ sau vụ thảm sát Thiên An môn. Nan quyết định bỏ học và thay vào đó anh nuôi dưỡng tình yêu với thi ca. Anh đã là nhiều công việc chân tay trong khi vợ anh lại làm Osin cho một goá phụ Mỹ giàu có. Sau đó, học đã đoàn tụ với đứa con trai 6 tuổi của mình, Taotao, khi thằng bé đi từ Trung Quốc sang Mỹ, và rồi họ thực sự bắt đầu cuộc sống mới như là một gia đình thực sự tại Massachusetts. Dần dà, họ rời bỏ vùng Đông Bắc, chuyển đến một khu ngoại ô buồn tẻ của Atlanta, nơi họ mua lại một nhà hàng Trung Quốc ở một thương xá nhỏ trong một khu nông thôn đa phần là người công nhân da trắng bảo thủ. Trong khi họ đang cố gắng tạo dựng cuộc sống như một người Mỹ tự do, cố gắng làm ăn và trả nợ tiền vay ngân hàng cho một căn nhà khiêm tốn thì Nan lại bị ám ảnh bởi những kỷ niệm của anh ở Trung Quốc, bao gồm cả suy nghĩ về một người đàn bà mà anh nghĩ là anh vẫn còn yêu. Nan cũng héo hon đi vì những cố gắng hiện thời để hiểu cách làm thơ và cách sống cuộc sống của một nhà văn. Và rồi một cách tự nhiên, con cái của họ lớn lên và ngày càng Mỹ hóa trong cả hành vi lẫn ngôn ngữ, chính cái bản lề chuyển giao thế hệ đó đã mở cánh cửa cho Nan và Bình Bình bước vào thế giới Mỹ, cái thế giới mà họ luôn cảm thấy phức tạp và khó hiểu.

Chúng ta nhanh chóng nhận ra rằng cái nước Mỹ này cũng có thể là cơn ác mộng đối với những người di dân Trung Quốc. Trong một cảnh ở đầu cuốn sách, Nan, tranh thủ giờ nghỉ khi đang làm  người gác ban đêm cho một nhà máy địa phương, đã đi đến một siêu thị gần đó để mua một ít thức ăn. Trong khi quay trở lại xe, anh bị một cặp da trắng hung tợn bám theo, chúng muốn dùng anh để “kiếm một vài con mèo tơ”. Nan chạy vội đến xe và bỏ đi nhưng bọn chúng vẫn đuổi theo anh. Rõ ràng sự “khác biệt” của anh đã đặt anh, và cả gia đình anh nữa, vào tình trạng nguy hiểm. Trong tâm trạng hoảng loạn, Nan tự hỏi: “Tại sao chúng lại muốn giết anh? Chỉ là bởi vì chúng có thể? Bởi vì anh là người da vàng, không phải là người da trắng như chúng?

Trong rất nhiều tình tiết trong suốt cả cuốn sách, Nan, Bình Bình và Taotao đã phải đối mặt với nhiều vấn đề của những người di dân, những vấn đề sinh ra do sự khác biệt về màu da, văn hoá và giọng nói. Họ đã bị phân biệt đối xử, nhưng đó không phải là hình ảnh về nước Mỹ mà Nan muốn tin. Bên cạnh những bất cập đó, nước Mỹ đối với anh vẫn là miền đất của cơ hội và hy vọng như những gì mà đất nước này đã làm cho anh khi anh mới đặt chân đến từ hồi còn là sinh viên. Nan nhớ lại: “Trong nhóm bạn đồng hương của anh ở Brandeis, anh có biệt danh là “Ông toa tàu” vì có lần trong một buổi tiệc, anh đã trích một câu thơ của Emerson- Hãy mở toa tàu để vươn tới vì sao- để ngăn cản một nhà ngôn ngữ học chuyển sang lĩnh vực kinh tế. Một nhà sử học đến từ tỉnh Hồ Nam đã khuyên Nan không nên ủng hộ cho “con vẹt được gọi là người New England thông thái” đó, kẻ phân biệt chủng tộc và luôn miệt thị người Trung Quốc.”

Nan bắt đầu nhận biết những định kiến và sự nguy hiểm tiềm tàng của việc trở thành “người khác”, nhưng anh vẫn cố gắng suy nghĩ về tình trạng của mình bằng cách nhìn vào cách mà những người khác bị đối xử: một cuốn tiểu thuyết sẽ là mớ giấy lộn nếu đề cập đến những người da đen, cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha hay giới đồng tính. Và Nan cũng hiểu rằng, muốn trở thành nhà văn trong tương lai, anh phải lưu tâm đến cả những nhóm người ngày, bao gồm cả kẻ “phân biệt chủng tộcNew England thông thái, những người đó có thể giúp anh hiểu trở thành nhà văn có nghĩa là gì.  Cuốn sách của Nan cho ta thấy rõ ràng là Nan đã mong muốn trở thành nhà văn ít nhất cũng nhiều như mong muốn trở thành người Mỹ.

          Cuốn sách có dáng dấp của một cuốn tự truyện, nó lần theo những bước đường của tác giả, khởi đầu bằng hành trình từ Trung Quốc đến Brandeis, rồi đến những công việc chân tay, tiếp nữa là khu ngoại ô Atlanta và cuối cùng là đời sống của một nhà văn. Nhìn nhận tác phẩm qua lăng kính đó không làm mất giá trị của nó. Nó là sự chiêm nghiệm về những thay đổi trong cảm thức của một nhà văn di dân và là một câu chuyện thành công về cách mà một gia đình Trung Quốc tự điều chỉnh để dần trở thành một gia đình người Mỹ gốc Hoa.

          Bên cạnh đó, với tư cách là những độc giả, chúng ta đã biết đến những “câu chuyện vượt khó” kiểu như thế, không chỉ là những câu chuyện nói trực tiếp về Trung Quốc mà còn là những cuốn tiểu thuyết về những sắc dân di cư khác vốn tồn tại trong nền văn học của chúng ta (nền văn học Mỹ-ND.). A Free Life đã thành công, và chúng ta nhanh chóng nhận ra rằng sức mạnh của cuốn sách và tính độc đáo của nó được ẩn chứa ngay trong sự hư cấu quá trình phát triển của một nhà văn, người cũng tình cờ là một di dân. Ẩn dấu đằng sau bề mặt hữu hình được kết cấu một cách chặt chẽ của một câu chuyện về một gia đình, câu chuyện thực sự cho thấy nỗ lực cá nhân của Nan trong việc giữ được sự tập trung và nuôi dưỡng sự mong muốn đi tìm giọng điệu riêng.

          Ở đoạn đầu cuốn tiểu thuyết, Nan rời gia đình ở Boston để đến New York, nơi anh xin vào làm một nhân viên hành chính cấp thấp trong một Trung tâm văn hoá Trung Quốc. Cuộc phỏng vấn đã không được suôn sẻ, và trên đường ra khỏi trung tâm đó, Nan bắt đầu suy tư:

“Nan bước ra khỏi Trung tâm với trái tim u uẩn. Những câu hỏi cứ nối tiếp nhau hiện ra trong đầu anh. Sao họ lại gọi nơi này là bảo tàng văn hoá được nhỉ? Tại sao lại có quá ít những đồ trưng bày xứng đáng được gọi là tác phẩm nghệ thuật thế? Tại sao trong cộng đồng di dân không xuất hiện những Picaso, Faulkner hay Mozart? Phải chăng điều đó có nghĩa là thế hệ di dân Trung Quốc đầu tiên kém sáng tạo và chất nghệ sĩ hơn? Cũng có thể lắm, vì thế hệ di dân đầu tiên là những người nghèo khổ và thất học, và bởi vì họ phải làm việc quần quật như nô lệ để nuôi sống bản thân và gia đình, họ đã phải tập trung toàn bộ sức lực để sinh tồn trên cái xứ xa lạ, đầy rẫy sự phân biệt đối xử và bất trắc này. Việc rời bỏ quê hương nguồn cội ra đi đã làm què quặt cuộc sống của họ, làm cạn kiệt nguồn sống của họ rồi, nói gì đến việc sáng tạo nghệ thuật. Làm sao một thiên tài có thể xuất hiện cho được trong một nhóm người chuyên sống bằng nghề cu-li, những con người hoảng loạn, kiệt quệ, bị đối xử bất công, ốm yếu và gắn chặt với bản năng sinh tồn? Không có được sự an nhàn, làm sao nghệ thuật có thế xuất hiện được?”

          Và Nan biết quá rõ rằng đó chưa phải là toàn bộ vấn đề. Những người di dân Trung Quốc dĩ nhiên cũng đã viết ra những câu chuyện về bản thân họ cũng như văn hoá của họ, và trong một đoạn văn mà dường như những tư tưởng vô tình của tác giả có thể đã thấm vào, Nan đã đề cập đến “những tác gia đương đại như Maxine Hong Kingston, Amy Tan  và Gish Jen.”. Nhưng Nan cũng biết rằng những câu chuyên kiểu như thế đã được viết bởi sự méo mó và sức ép thương mại, anh cũng nhận thức đầy đủ rằng “thành công” có thể mang theo nó những vấn đề nho nhỏ về tính xác thực.

          Đọc A Free Life, với những lầm lạc đầy gay cấn và có tính nghệ thuật cao trong việc cắt nghĩa ý nghĩa của việc là một di dân và là một người sẽ trở thành nhà văn, ta lại càng thấy rõ tại sao cuốn sách mới của Cáp Kim lại là một tập hợp của ba tiểu luận với tiêu đề không úp mở “Nhà văn như là di dân”. Ba tiểu luận này đã làm thành một tập mỏng, vốn trước đây đã được dùng làm tài liệu giảng dạy tại Đại học Rice năm 2007, và người ta nhanh chóng cảm giác được sức nặng của sự hoang mang học thuật trong lời giới thiệu được viết chỉ trong một trang của tác giả.

          Ông tuyên bố: “Với việc đặt nhà văn vào vị trí của một di dân, chúng ta có thể khảo sát những khía cạnh siêu hình trong đời sống và tác phẩm của một nhà văn di dân.” Ông nói tiếp: “Tôi nhắc đến nhiều tác phẩm văn chương bởi tôi tin vào vẻ đẹp và sự hữu ích của văn chương ẩn chứa trong khả năng thắp sáng cuộc sống của nó.” Đúng rồi, nhưng điều này sẽ dẫn chúng ta đến đâu?“Tôi sẽ nói nhiều về những nhà văn lưu vong không phải chỉ là vì tôi tự coi tôi là một nhà văn lưu vong – tôi còn là một di dân – mà chủ yếu là vì đại đa số những tác phẩm xuất sắc về đề tài người di dân đều được viết dựa trên những trải nghiệm lưu vong. Tuy nhiên di dân lại là vấn đề thứ yếu, đặc biệt là với người Mỹ. Do dó, thách thức lớn nhất của những nhà văn chuyên viết về đề tài di dân là họ phải tìm ra cách ứng xử với đề tài này một cách tương thích với những truyền thống văn học lớn hơn.”

          Lời bạt của cuốn sách hứa hẹn một sự khai triển sâu sắc đầy tiềm năng về đề tài di dân, nhưng nó cũng gióng lên hồi chuông của sự nghi ngờ và bất an trong lòng độc giả. Tại sao di dân lại là chủ đề thứ yếu, cái gì mới là đề tài chính yếu đối với người Mỹ? Văn học Anh đương đại đã có những tác phẩm thành công với đề tài này bao gồm  cuốn The Lonely Londoners của Samuel Selvon và  Sour Sweet của Timothy Mo. Tôi ngờ việc cả Selvon (đến từ Trinidade) lẫn Mo (đến từ Hồng Kông) đều đã lưu tâm đến “những truyền thống văn học lớn hơn”.

          Tiểu luận đầu tiên của Cáp Kim, Người phát ngôn và bộ lạc (The Spokesman and the Tribe), xoay quanh những vấn đề mà ông gọi là những câu hỏi kiểu Aristote: nhà văn viết cho ai, với tư cách là ai và thoả mãn sở thích của ai? Ở ngay đoạn đầu bài tiểu luận, ông đã trích dẫn ngay tác phẩm của chính mình. “Câu trả lời của tôi cho những câu hỏi đó khá là đơn giản. Trong ngay lời giới thiệu cho tập thơ đầu tiên của tôi, Between the Silence, tôi đã viết: “Quả là một sự may mắn cho tôi khi tôi được cất lên tiếng nói cho những người không may mắn, những con người đau khổ và bị ngược đãi dưới đáy xã hội, những người đã tạo ra một lịch sử và cũng đồng thời bị lừa dối hay bị huỷ hoại bởi chính lịch sử đó.” Từ trước đây, Cáp Kim đã tự coi mình là nhà văn phát ngôn cho hàng triệu người dân Trung Quốc đang bị đàn áp ở quê nhà. Ông cho rằng sở dĩ ông nhận lãnh lấy trách nhiệm đó một phần là do mặc cảm tội lỗi, nhưng sau đó ông đã nhận ra rằng việc tự nhận lấy về mình trách nhiệm đó đã cởi bỏ cho ông khỏi những lời buộc tội của những người mà ông phụng sự.

          Ông không bao giờ cho biết liệu đã bao giờ ông dựa trên sự quan sát tỉ mỉ những người có thể yêu cầu ông cho biết ai đã trao cho ông cái quyền được phát ngôn cho họ. Khi cánh cửa dẫn vào thế giới nội tâm của ông vừa hé mở ra, ông ngay lập tức đóng sập nó lại. Thay vào đó, ông nói về những gì “nhân dân” có thể tác động tới một “nhà văn”, người đang tìm kiếm quyền phát ngôn, và rằng ông đã tạo dựng một cách vững chãi nhân vật “nhà văn”, ông tự giải phóng chính mình ra khỏi những ràng buộc phải đáp ứng lòng mong mỏi hay kỳ vọng của chúng ta, “nhà văn” đó sẽ là Cáp Kim. Điều này có thể gây thất vọng, đặc biệt là cho những độc giả, thậm chí là ngay từ đầu của cuốn sách này, đã không thể thoát ra khỏi cảm giác rằng tất cả những ví dụ sinh động về “nhà văn như là người di dân” có thể là về chính Cáp Kim.

          Đoạn mở đầu của bài tiểu luận đã xem xét đến hai người phát ngôn: Alexander Solzhenitsyn và nhà văn Trung Quốc Lâm Ngữ Đường (Lin Yutang). Theo Cáp Kim, cả hai nhà văn trên đều gắn liền với khái niệm phát ngôn thay mặt cho dân tộc mình  khi họ đã ra khỏi tổ quốc, điều đã gây tác hại lớn đến tác phẩm của họ về sau. Về trường hợp của Solzhenitsyn, Cáp Kim tin rằng “những tác phẩm mà Solzhenitsyn viết khi ở Vermont kém tính văn học hơn những tác phẩm mà ông ta viết trước khi đi lưu vong”. Hiện tượng đó phần lớn là do trong thời gian sống lưu vong, ông ta đã viết những tác phẩm để ủng hộ cho những gì ông chứng thực hay để bảo tồn những ký ức về một nước Nga không có tiếng nói. Trong khi vẫn đánh giá cao những tác phẩm của Solzhenitsyn như:  Một ngày trong đời Ivan Denisovich (One Day in the Life of Ivan Denisovich), Vòng tròn đầu tiên (The First Circle) và Viện ung thư (Cancer Ward), Cáp Kim vẫn cho rằng “những tác phẩm giai đoạn sau của Solzhenitsyn không có được kết cấu nghệ thuật chặt chẽ  và giá trị phản ánh của nó sẽ phai nhạt theo sự bào mòn của những biến động lịch sử”.

          Có thể điều đó đúng, nhưng dường như cũng có khả năng là ngay trước khi đến định cư ở Vermont, những sự kiện xẩy ra trong nước Nga cũng đã khiến cho ông tái ước định sự thuần khiết cho những mục đích của mình với tư cách là một nghệ sĩ. Chắc chắn là Quần đảo ngục tù, tập đầu tiên xuất bản năm 1947 trước khi ông đi lưu vong, đã bác bỏ chứng cứ mà Cáp Kim đưa ra rằng quan điểm văn chương của Solzhenitsyn đã bị ảnh hưởng bởi cái mà Cáp Kim gọi là “niềm hoài hương”, nó ngược lại với tính hiện thực sâu sắc được thể hiện trong  tác phẩm. Nếu như điều đó là đúng thì dường như ta có thể nói rằng tình trạng lưu vong không thể là lý do duy nhất cho sự giảm sút tính nghệ thuật như Cáp Kim đã chỉ ra.

          Một giai đoạn trong cuộc đời của Solzhenitsyn mà Cáp Kim cảm thấy hứng thú nhất là giai đoạn “bí ẩn” xung quanh quá trình hoà nhập của nhà văn Nga để trở thành công dân Mỹ. Ngày 25 tháng 6 năm 1985, các phóng viên và nhiếp ảnh gia chờ đợi trong toà án tại Rutland, Vermont để chứng kiến việc Solzhenitsyn tuyên thệ để trở thành công dân Mỹ. Nhưng chỉ có bà vợ ông xuất hiện và nhận giấy chứng nhận quốc tịch của chính bà, bà giải thích rằng hôm nay chồng bà “không được khoẻ”. Rõ ràng là Solzhenitsyn đã thay đổi quyết định vào phút cuối, ông đã không từ bỏ quê hương. Cáp Kim cho rằng “thật may là ông ta đã khắc chế được cái đầu nóng và từ chối tham dự buổi lễ”. Nhưng tại sao lại là “may mắn”? Nếu như Cáp Kim có ít niềm tin vào tư cách phát ngôn viên của nhà văn, và nếu ông ta tin rằng vai trò đó có thể phương hại đến nghệ thuật của nhà văn thì tại sao Cáp Kim lại hài lòng khi Solzhenitsyn vẫn giữ được sự “trung thành” đối với Liên bang Xô viết?

          Người ta có thể cảm nhận, cho dù không biết chính xác tại sao, rằng giai đoạn này mang nhiều ý nghĩa cá nhân đối với tác giả, nhưng những kết luận của ông có vẻ vội vàng và không thoả đáng. “Giai đoạn này của cuộc đời Solzhenitsyn cho thấy rằng mặc dù ông ta đã thiết lập một cách cẩn thận mối quan hệ mật thiết với đồng bào mình, vai trò của ông vẫn luôn có nguy cơ bị thay đổi – những biến động tình cờ, đôi khi là cần thiết có thể dễ dàng phá huỷ mối quan hệ đó và biến nó thành một phiên bản bạo liệt.” Cáp Kim viết. “Với việc viết về những nỗ lực hoà nhập của Solzhenitsyn, tôi không muốn chỉ đơn giản là chỉ ra sự điên rồ mà con người vĩ đại này gần như đã mắc phải. Điều tôi muốn làm là minh hoạ cho sự mỏng manh trong bản sắc của ông với tư cách là người phát ngôn cho nhân dân mình”. Nhưng chắc chắn một điều là con người của Solzhenitsyn phức tạp hơn tư cách là một “phát ngôn viên” nhiều. Chính xác là ông ấy phát ngôn cho ai? Cho những người đã chết, xét về tổng thể. Quan niệm văn chương của ông không gắn chặt với một dân tộc (tác phẩm của ông là cuộc tấn công toàn diện vào những gì mà rất nhiều người Nga đã làm và đã tin) mà là với một vùng đất, gắn chặt với những khái niệm đặc hữu cho vùng đất đó.Người ta cũng luôn nhận ra rằng cách nhìn của nhân dân về chính ông không ảnh hưởng đến ông nhiều, miễn là ông còn trung thành với quan điểm của ông về một nước Nga thật sự.

          Cáp Kim coi Lâm Ngữ Đương là một ví dụ nữa cho sự nguy hiểm của việc gắn chặt với vai trò “phát ngôn viên”, mặc dù Lâm Ngữ Đường còn phải đối mặt thêm với nhiều vấn đề khi quyết định viết bằng tiếng Anh và ,về mặt nào đó, là người phiên dịch cho đồng bào mình với độc giả phương Tây. Lâm Ngữ Đường sinh năm 1895 tại Trung Quốc, năm 1922 ông tốt nghiệp cử nhân (B.A) tại Harvard trước khi quay về Trung Quốc. Vào năm 1935, trong khi vẫn đang còn ở Trung Quốc, ông đã xuất bản cuốn Ngô quốc và Ngô dân (My Country and My People- 吾國与吾民), quyển sách đầu tiên viết bằng tiếng Anh của ông, về sau đã trở thành best-seller ở Mỹ. Một năm sau, ông di cư sang Mỹ, nơi suốt trong 3 thập kỷ tiếp theo, ông dành hết sức lực cho việc viết bằng tiếng Anh. (Ông mất năm 1976). Cáp Kim biết rõ về những hệ quả trái ngược của việc này lên nhiều tác phẩm hư cấu và phi hư cấu của ông, ít nhất là tác động của nó lên lối viết “ngọt hoá”, làm cho chúng đôi khi giống như những tiểu thuyết lãng mạn rẻ tiền.

          Cáp Kim cũng cho rằng Lâm Ngữ Đường đã trải mình quá rộng, tạo ra một số tác phẩm hạ cấp chỉ vì tiền và sau đó, sau khi đã rời khỏi Mỹ về sống 10 năm cuối đời tại Đài Loan, đã dành ra 5 năm trời để biên soạn cuốn Từ điển Trung-Anh hiện đại. Cáp Kim cho rằng nỗ lực này của Lâm Ngữ Đường là một “sai lầm” bởi ngay sau đó nó đã trở nên vô nghĩa vì ở Trung Hoa lục địa, theo lệnh của Mao, người ta cũng đã khởi động một dự án tương tự với một ban biên tập lên đến 50 người. Cáp Kim cũng ý thức rõ về những bài học mà chúng ta có thể rút ra sau “sai lầm” này cho dù những kết luận của ông làm kém sức thuyết phục. “Một nhà văn lưu vong nên tránh để cho sự nỗ lực của cá nhân mình đối lập với sự nỗ lực của tập thể, bởi vì tài sản chính yếu của anh ta là tài năng và sức lực của anh ta, chúng cần trước hết được dùng cho công việc sáng tạo nghệ thuật – một nền văn học lớn chẳng bao giờ được tạo ra bởi tập thể”. Và đó là nền văn học lớn mà Cáp Kim yêu thích, chỉ có thứ văn học như thế mới có thể “xuyên qua những ranh giới của lịch sử, chính trị và ngôn ngữ và lan tới những độc giả bao gồm cả những đồng bào của nhà văn”.

          Đã cho chúng ta thấy những nguy hiểm của một nhà văn di dân phải đối mặt, những người mà, giống như chính Cáp Kim ở thời kỳ đầu, đã nỗ lực đi tìm sự gắn kết với đồng bào mình, Cáp Kim đã đặt ra một câu hỏi lớn cho mọi độc giả. Nhà văn nên xử lý ra sao mối quan hệ của mình với tổ quốc mình? Người ta có thể đoán ra nơi mà Cáp Kim đi tìm câu trả lời. Một lần nữa, ông trở lại một chút với ký ức và hồi tưởng lại: “Tôi vẫn còn nhớ nhi in lần đầu tiên khi tôi đọc quyển tiểu thuyết “Khúc quanh của dòng sông” của Naipaul, có là quyển sách đã thay đổi cuộc đời tôi. Đó là vào cuối tháng 12 năm 1992, 3 năm sau khi tôi tuyên bố trong lời nói đầu cuốn sách đầu tiên của tôi rằng tôi sẽ phát ngôn cho những người Trung Quốc không may mắn”.

          Phần hai cuốn sách của Naipaul khởi đầu bằng cảnh một đàn kiến vẫn còn hỗn loạn sau khi mất đi một thành viên. Chẳng có sự giao kèo nào giữa cá nhân con kiến và tập thể. Mọi cá thể kiến đều phải tự bảo vệ lấy chính nó. Đoạn văn khiến cho Cáp Kim nhớ đến rằng ở Trung Quốc vẫn còn tồn tại một mối quan hệ giữa cá nhân và đất nước, trong khi đó ở Mỹ “tôi thấy những mối quan hệ như thế sẽ cho bạn những nhận thức sai lầm về khái niệm quyền lợi…Ở đây bạn phải làm việc như tất cả mọi người để kiếm cơm và phải học cách sống như một người độc lập”. Chính Naipaul đã giải phóng Cáp Kim ra khỏi gánh nặng phát ngôn cho những người Trung Quốc bị áp bức và cả sự “ngớ ngẩn của tham vọng đó”.

          Theo đó, Cáp Kim hiểu rằng nhiệm vụ đầu tiên của nhà văn là phải viết cho thật hay, vai trò xã hội chỉ là thứ yếu, “chúng được sinh ra bởi những thế lực xung quanh anh ta và chẳng có gì liên quan đến giá trị của anh ta với tư cách là một nhà văn”. Ông một mực từ chối khái niệm nhà văn của Nadine Gordimer cho rằng nhà văn phải có vai trò xã hội trong việc đưa ra những “chỉ dẫn cần thiết” và phải có vai trò lớn hơn chỉ đơn giản là người viết văn. Ông giải phóng chính ông khỏi xác tín cũ bằng những dòng của Derek Walcott trong tác phẩm “The Schooner Flight”:  Hoặc là tôi không là ai cả, hoặc là tôi là một đất nước.” Cuối cùng ông cho rằng “ngày nay văn học bất lực trước những biến đổi xã hội. Tất cả những gì mà nhà văn có thể làm là tiếng nói cá nhân”.

          Thật khó mà phủ nhận rằng văn chương trước hết và trên hết phải là tiếng nói của cá nhân và rằng nhà văn phải tỉnh táo trước những sự tha hoá của những tiếng nói đại diện. Một vài kết luận của  Cáp Kim có thể gây bàn cãi. Chúng ta nghĩ sao về những nhà văn ở Đông Nam Á, ở Trung Đông, ở châu Phi, những người vẫn đang còn bị quấy rầy, tra tấn hay bị tù vì những “chỉ dẫn cần thiết” của họ? Không phải tất cả họ đều là những kẻ lãng mạn ngờ nghệch, bám váy tổ quốc với những câu chuyện hạ cấp, đôi khi rẻ tiền. Có thật chính xác không khi nói rằng văn học đã bất lực trước những biến đổi xã hội? Có thật là nhà văn chẳng có tí trách nhiệm xã hội gì cả không? Trong khi chẳng ai trách cứ sự ích kỷ của nhà văn khi chối từ lòng trung thành của mình với một dân tộc và biến nghệ thuật của mình thứ một thứ có giá trị, có lẽ cũng chẳng phải là quá tự tin khi nói rằng chỉ có một và duy nhất một phương cách tạo ra một tác phẩm văn học lớn. Vâng! Vâng! “Nhà văn nên đi vào câu chuyện thông qua nghệ thuật của mình. Nếu anh ta phụng sự cho một mục đích, một nhóm người hay thậm chí là một quốc gia, sự chọn lựa đó phải là tự thân, không được áp đặt bởi xã hội. Anh ta phải phụng sự theo một phương cách, thời gian và không gian mà anh ta chọn” – Nhưng tại sao điều này lại quá quan trong với Cáp Kim đến như vậy? Có điều gì đó e dè trong những tiểu luận này khi ông ta dẫn chứng nhiều ví dụ của nhiều nhà văn di dân nhưng tuyệt nhiên không đề cập gì đến bản thân mình. Những sự sai lạc của ông, về phương diện cá nhân lẫn nghề nghiệp, chỉ là sự mở lối cho ta hiểu thêm về những nguyên nhân của sự cao giọng trong những lời kêu gọi của ông.

          Tiểu luận thứ hai trong tập sách, có tên là “Ngôn ngữ của sự phản bội”, bắt đầu bằng một tuyên bố chắc nịch rằng “sự phản bội ngôn ngữ là bước đi quan trọng đầu tiên mà một nhà văn di dân dám thực hiện, sau bước đi này, mọi sự li khai chỉ là chuyện vặt vãnh. Tiểu luận sau đó được mở rộng bằng những quan sát có phần tẻ nhạt của Conrad và Nabokov, những quan sát được trích dẫn cẩn thận, trước khi nó đi tiếp phần còn lại với một kết luận nhẹ nhàng rằng “nhà văn cần phải trung thành với nghệ thuật của mình”. Sự tranh luận ở đây chỉ nói qua một chút về cuộc sống, ở trang thứ hai: “Tôi thường được hỏi là tại sao tôi lại viết bằng tiếng Anh. Và tôi thường trả lời: “Để sống sót”. Người ta hay nhầm lẫn giữa “sống sót” và “sống” và ca ngợi mục đích khiêm tốn, và đôi khi xoàng xĩnh, của tôi. Trên thực tế, sống sót về mặt lý học chỉ mới là một phía của vấn đề, còn một phía khác – tồn tại, sống với đầy đủ ý nghĩa của cuộc sống. Tồn tại có nghĩa là làm cho cuộc sống có giá trị nhất, theo đuổi mục đích cao nhất của cuộc sống”.

          Một lần nữa, khi cánh cửa mở vừa mới ra cho chúng ta thấy những trải nghiệm cá nhận của ông được lồng vào văn chương của ông ra sao thì lại bị đóng sập lại. Về sau, ông đưa ra luận điểm: “Joseph Brodsky đã từng nhận ra rằng những nhà văn viết bằng tiếng Anh như chúng ta điều có liên hệ với  Conrad  theo một cách nào đó”, nhưng Cáp Kim lại không nói gì về việc viết bằng tiếng Anh của chính ông cả. Với việc tránh nói về câu chuyện của chính bản thân mình, ông đã là cho luận điểm của ông kém sức nặng, ông cũng đã tạo ra một hồi ứng cho những gì đã từng được coi là một mục đích khiêm tốn. Không thể ca ngợi sự dè dặt của ông, chúng ta bị bỏ rơi trong sự hoang mang không biết liệu ông có thật sự có liên hệ đến Conrad theo một cách nào đó không.

          Khi ta đọc đến tiểu luận cuối cùng, An Individual’s Homeland, ta cũng có thế hầu như đoán được kết luận cuối cùng sẽ như thế nào. “Quê hương” thật chẳng có gì can hệ đến một vùng đất, với những ai không thể quay trở về nơi chốn cũ với tư cách là người cũ, “quê hương” của anh ta có thể được tìm thấy trong nghệ thuật, mà cụ thể hơn là trong ngôn ngữ, thứ mà đối với những nhà văn di dân, những người đã phải thay đổi ngôn ngữ, nó luôn phụ thuộc vào sự tra vấn và biến cải liên tục. Trong tiểu luận này, văn bản chính là Odyssey, “Sự ngu dốt” (Ignorance) của Kundera và một lần nữa là  “Khúc quanh của dòng sông” (A Bend in the River) của Naipaul. Cáp Kim thích nhất tác phẩm “Những kẻ di cư” (The Emigrants) của Sebald, tuy nhiên ở trong tiểu luận này, khi xem xét đến những biến cố đã xẩy ra cho người nghệ sĩ Max Ferber trong một trong những câu chuyện của Sebald, sự phân tích đã đưa đến một kết quả nghèo nàn: “Chính mối quan hệ sâu sắc và không thể chia lìa giữa ông và quá khứ đã đã giữ cho ông được an toàn và lành mạnh, và đã cung cấp cho ông một không gian để ông có thể thực hiện nghệ thuật của mình. Nói một cách khác, ông đã thành công trong việc xây dựng cho mình một quê hương khác cho chính mình, đặng sống sót qua sự bạo liệt và kinh hoàng của lịch sử”. Cáp Kim có vẻ như xem nghệ thuật của nhà văn di dân này là một trại tị nạn, một nơi mà trên hết mọi điều là phải bảo vệ nghệ thuật của nhà văn khỏi những sự xâm phạm và can thiệp của lịch sử.

          Có hai cách để đọc những tiểu luận này. Trước hết, chúng là sự phản ảnh của một vị giáo sư, người đã có những suy nghĩ nghiêm túc về vấn đề di dân, vấn đề đại diện, vấn đề ngôn ngữ và tổ quốc như cách mà không khí học thuật đòi hỏi và là người mà sự nghiên cứu và sự thông thái hiện ra đầy trách nhiệm. Với cách tiếp cận này, chúng ta nhận thấy rằng đây là những bài viết nghiên cứu công phu và cẩn thận nhưng rồi cuối cùng lại không thể soi tỏ được sự khó khăn và tính phức tạp của vấn đề. Chúng ta sẽ có thiên hướng bỏ tập sách học thuật này sang một bên và tìm đến những bài tiểu luận về cũng một chủ đề của các tác giả như: Chinua Achebe, Octavio Paz, Salman Rushdie, Czesaw Miosz, V.S. Naipaul, Mario Vargas Llosa, Wole Soyinka và nhiều người khác nữa – những người đã nghiêm túc xem xét vấn đề này trong các tác phẩm của họ và không ngần ngại đưa những trải nghiệm cá nhân, bao gồm cả những chi tiết về tiểu sử, vào trong bài viết của họ. Trong mọi trường hợp, họ đều viết một cách trực diện về những nhà văn khác và cẩn trọng để những trải nghiệm cá nhân của họ sang một bên, nhưng khi nói đến những vấn đề cơ bản của sự tồn mang tính cá nhân cũng như với tư cách là một nghệ sĩ của họ, họ đã không đứng quá xa khỏi chủ đề.

          Cách thứ hai để đọc những tiểu luận này là tiếp cận chúng như thể chúng được viết ra bởi một nhà văn đã sống với chủ đề này bằng chính cuộc đời của ông ta. Nhưng sau đó chúng lại biến thành những bài tập lạ lùng trong sự dè dặt của một người không có mục đích rõ ràng. Nếu như Cáp Kim hy vọng rằng độc giả chúng ta đến với tác phẩm của ông vì sự căng thẳng, sự đoạn tuyệt, sự phản bội và những khó khăn của một “nhà văn như là người di dân” thì ông đã thành công. Bởi vì A Free Life còn xa mới là sự chiêm nghiệm sâu sắc về tình trạng này, nó chỉ là những khám phá mang tính phân tích. Ở khoảng giữa cuốn tiểu thuyết, Nan Wu suy tư về sự khác biệt giữa anh và một học giả lớn tuổi hơn, ông Lưu:

“Đây là bi kịch của ông Lưu – ông không tự mình thoát ra khỏi chính thể luôn kiểm soát và hành hạ ông. Nếu không có bộ khung những  ràng buộc đã có ở quê nhà, cuộc đời ông sẽ mất đi nhiều ý nghĩa. Đó hẳn phải là lý do tại sao nhiều người lưu vong, cho dù đau khổ với niềm hoài hương, vẫn ra sức ca tụng những khổ đau và chủ nghĩa ái quốc. Về mặt thân xác thì họ đang ở đây, nhưng vì cái gông của thứ quá khứ huy hoàng, họ đã không sao hoà nhập được với miền đất mới. Ngược lại, Nan là một di dân không có gánh nặng đáng kể nào của quá khứ. Đối với những kẻ cầm quyền, anh ta chẳng là ai cả, anh ta không tồn tại. Anh ta thậm chí chẳng có lấy một quan chức Trung Hoa nào để mà quỵ lỵ. Ai thèm lắng nghe một người như anh ta, một di dân, một kẻ tị nạn? Những con người như anh ta sống sót hay khổ đau như con sâu con kiến, và chẳng can dự gì đến những đồng bào của anh ta nơi quê nhà. Đối với những người Trung Quốc, họ đã là thứ đã mất. Càng nghĩ về những điều này, Nan càng thấy bất an. Mặt khác, anh sẵn sàng chấp nhận cuộc sống của một người di dân như chính tình trạng mà anh đang tồn tại và trở thành một người tự chủ. Anh cảm thấy biết ơn nước Mỹ đã đón nhận gia đình anh và ban cho anh một cơ hội cho một sự khởi đầu mới”

          Những đoạn văn như thế nhắc nhở chúng ta rằng đã có nhiều xung năng đến từ những nguy hiểm tiềm tàng của sự tự tỉnh thức được mang đến cho tác phẩm của Cáp Kim, và biết bao xung năng mà chúng ta đã bỏ sót trong những bài tiểu luận đầy suy tư này.

Nguồn:http://www.tnr.com/booksarts/story.html?id=afbe08a2-cc77-4035-a74e-3507ca073e0d

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.